
“Thăng Long Tứ Trấn” là tên gọi chung đại diện cho bốn ngôi đền linh thiêng, được xây dựng để trấn giữ tứ phương Đông, Tây, Nam, Bắc của kinh đô Thăng Long xưa, thể hiện quan điểm về vũ trụ và phong thủy của người Việt cổ. Mỗi ngôi đền trong Thăng Long Tứ Trấn thờ một vị thần có công lao to lớn với đất nước, mang trong mình những câu chuyện lịch sử và truyền thuyết ly kỳ. Sự tồn tại của Thăng Long Tứ Trấn không chỉ bảo vệ kinh thành về mặt tâm linh mà còn góp phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển văn hóa, tín ngưỡng của người dân Hà Nội.
Lịch sử:
Từ thời Lý, quan niệm về việc xây dựng các công trình tâm linh để bảo vệ kinh thành đã được coi trọng. Thăng Long Tứ Trấn ra đời như một minh chứng cho điều đó, thể hiện ước nguyện về một kinh thành vững chãi, thái bình. Mỗi ngôi đền trong hệ thống Thăng Long Tứ Trấn đều hướng đến mục tiêu chung là bảo vệ, che chở và mang lại may mắn cho kinh thành.
Trong Thiên đô chiếu (chiếu dời đô), Hoàng đế Lý Thái Tổ đã miêu tả Đại La (Thăng Long) là nơi “ở vào nơi trung tâm trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước.” Ông cho rằng một nơi như vậy ắt sẽ mang lại thái bình và thịnh vượng, nên phải được bảo vệ một cách linh thiêng.
Đền Bạch mã trấn giữ phương Đông

Nằm giữa lòng Phố Cổ, đền Bạch Mã là “tuyến phòng vệ” trấn giữ phía Đông thành cổ. Được khởi dựng vào thế kỷ thứ 9, đền Bạch Mã được xem là ngôi đền lâu đời nhất của Tứ Trấn. Vị thần được thờ phụng ở đây là thần Long Đỗ (có nghĩa là “rốn rồng”), hay còn gọi là thần Bạch Mã.
Ngôi đền có bốn phần chính. Đầu tiên là Phương đình (sân trước) với những cột gỗ lim sơn son thếp vàng. Tiếp theo là Đại bái (đình ngoài) được dành riêng để thờ Bạch Mã, rồi Thiên hương (đình giữa). Cung cấm trong cùng là nơi thờ thần Long Đỗ.

(Sân trước)

(Đình ngoài – nơi thờ thần Bạch Mã)

(Điện thờ thần Long Đỗ)
Câu chuyện ít ai biết:
Thời đền Bạch Mã tọa lạc thuộc địa huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, Thăng Long.
Ngôi đền này được xây dựng từ thế kỷ thứ IX thờ thần Long Đỗ (Rốn Rồng) – vị thần gốc của Hà Nội xưa có công lớn trong việc làm thất bại các pháp thuật của viên quan đô hộ Cao Biền thời Bắc thuộc. Cao Biền vốn là một viên quan nhà Đường khi sang cai quản đã có dã tâm trấn yểm long mạch nước ta khi đi qua vùng đất này đã được thần Long Đỗ báo mộng. Có người khuyên Cao Biền dựng đền, đắp tượng thờ rồi lấy một nghìn cân sắt, đồng làm bùa trấn yểm, Biền làm y như vậy. Bỗng một trận cuồng phong nổi lên quật đổ cây to, tung đất, làm tất cả đồng sắt trấn yểm đều biến thành tro bụi. Biền than thở: “Ta phải về Bắc thôi”, sau quả nhiên như thế.
Đến thế kỷ X, khi đưa quân đi dẹp loạn, Đinh Bộ Lĩnh đã đến đền thờ thần Long Đỗ phía đông thành Đại La làm lễ cầu đảo xin Thần phù hộ cho nước, cho được vạn sự thì sẽ phong sắc để biểu dương sự anh linh. Từ đó Đinh Bộ Lĩnh đánh đâu được đấy, được tôn là Vạn Thắng Vương, bình được 12 sứ quân. Sau khi thống nhất đất nước, Đinh Tiên Hoàng mơ thấy một vị thần tự xưng là Thần Bạch Mã báo mộng rằng: ‘’Thần đã vâng mệnh Hoàng Thiên, theo vua đánh giặc. Nay thiên hạ đã yên bình, nhà vua chưa lễ tạ, thế là không đúng lễ’’. Vua tỉnh dậy, biết Thần rất là linh ứng, liền phong tặng mĩ tự, phong là: Hộ Quốc Bảo Cảnh Linh Thông Tế Thế, Đô Đại Thành Hoàng Linh Lang Bạch Mã Đại Vương Thượng Đẳng Phúc Thần.
Đền Kim Liên trấn giữ phương Nam
Tọa lạc tại Đống Đa, Đền Kim Liên là ngôi đền linh thiêng trấn giữ phía Nam, nơi thờ phượng thần Cao Sơn, một trong 100 người con của thủy tổ Lạc Long Quân và Âu Cơ. Theo chân mẹ lên núi, ông đã giúp Sơn Tinh đánh bại Thủy Tinh để mang lại giang sơn ấm no và thái bình cho người dân.

(Lối vào đền Kim Liên với bức hoành phi khảm ba chữ Nho: 南方鎮 – Trấn Nam Phương)
So với ba ngôi đền còn lại, đền Kim Liên được cho là hoàn thiện muộn nhất, vào thế kỷ 16-17 từ khi được khởi công sau sự kiện dời đô. Qua thời gian, dân làng Kim Liên xây thêm cổng tam quan cạnh hồ Kim Liên. Nhiều công trình bổ trợ cũng đã được xây dựng và ngôi đền dần kiêm luôn chức năng của một ngôi đình làng.

Đền Voi Phục trấn giữ phương Tây
Ngự ở phía tây kinh thành là đền Voi Phục ẩn mình dưới tán lá xanh ở công viên Thủ Lệ. Đức thần được thờ là Hoàng tử Linh Lang, có nguồn gốc là con của Long Vương thác sinh vào làm con một bà phi tên là Hạo nương của vua Lý Thánh Tông. Vào thế kỷ 11, đức thần đã có công giúp vua Lý Thánh Tông đánh giặc Tống. Để tưởng nhớ công đức thần, nhà vua đã lệnh cho dân chúng dựng đền Voi Phục; tên gọi xuất phát từ hai bức tượng voi đá quỳ trước cổng đền.

Mái đền Voi Phục mang kiến trúc truyền thống như những ngôi đền cổ khác — đuôi mái đền được uốn cong, được tổ điểm bởi chạm khắc các linh vật như rồng, lân, phượng, v.v.


(賜千秋享祀顯靈 – Tứ thiên thu hưởng tự hiển linh, tức được vua ban cho sự thờ phụng muôn đời, linh thiêng hiển ứng)
Đền Quán Thánh trấn giữ phương Bắc
Tọa lạc bên cạnh Hồ Tây, đền Quán Thánh là ngôi đền mang nhiệm vụ trấn giữ phương Bắc. Đây là nơi thờ phượng Huyền Thiên Trấn Vũ, một vị thần quan trọng trong Đạo giáo, tượng trưng cho sao Bắc Cực.

Câu chuyện ít ai biết (2)
Truyền thuyết kể rằng ngày xưa, có một con hồ ly chín đuôi hay đi gieo rắc tai họa cho người dân. Thần Trấn Vũ phải giáng trần tiêu diệt hồ ly để thiết lập lại hòa bình. Mảnh đất chôn xác hồ ly bỗng lung chuyển thành vùng trũng và trở thành Hồ Tây ngày nay; đây cũng là lý do hồ còn có tên gọi là đầm “Xác Cáo.”
Ngôi đền hiện nơi lưu trữ nhiều tác phẩm nghệ thuật xưa, trong đó có 40 bài thơ Đường được khắc gỗ niên đại từ thế kỷ thứ 7. Ngoài ra còn có một bức phù điêu đồng miêu tả cảnh Tam giới: Thiên-Địa-Thuỷ (Trời-đất-nước)
Linh hồn của ngôi đền chính là bức tượng Huyền Thiên Trấn Vũ bằng đồng cao 3.96 mét và nặng 4 tấn được đặt ở bàn thờ chính. Theo truyền thuyết, bức tượng này thể hiện rõ nét vị thần Đạo giáo khi ngài đã đắc đạo.
Câu chuyện ngoài lề ít ai biết (3)
Tương truyền, khi đi lễ Thăng Long Tứ trấn, cần tuân theo một số quy ước đặc biệt. Đó là đi lễ tất cả 4 đền trong cùng một ngày và theo thứ tự lần lượt như sau: Đền Bạch Mã; đền Voi Phục; Đền Kim Liên; Đền Quán Thánh. Tuy nhiên ngày nay, tục lễ được đơn giản hóa, người dân có thể đi lễ theo thứ tự thuận tiện đường di chuyển nhất mà vẫn đảm bảo dâng lễ 4 ngôi đền.
Cả một tháng đầu xuân đầy tốt lành như thế, người dân khắp cả nước rộn ràng đi đền chùa. Điều này được Phan Kế Bính nói tới trong Việt Nam phong tục như sau: “Suốt một tháng giêng, già trẻ trai gái, kẻ chợ nhà quê, quần điều áo thắm, kẻ thì lễ bái chùa này miếu nọ, người thì du ngoạn cảnh nọ cảnh kia, chỗ thì thi hoa thủy tiên, chỗ thì thi hoa đăng, chỗ thì hội hè hát xướng”. Chung quy ấy cũng là cách thưởng xuân của dân ta.